Truy xuất nhanh tập tin, thư mục


Bạn thường xuyên “lục tung” hộp thoại Open hoặc Save As và “hoa cả mắt” trước hàng đống tập tin và thư mục chỉ để tìm ra đúng một tập tin/thư mục cần thiết. Liệu có cách nào tốt hơn không? Hãy tham khảo những thủ thuật sau.

Places Bar: Bạn có thể bố trí 2 hay 3 thư mục thường truy xuất lên thanh Places Bar ở bên trái của hộp thoại. Để biết cách thực hiện, tham khảo lại bài viết “Biện pháp an toàn và dễ dàng để mã hóa tập tin” (ID: A0701_115). Lưu ý, thanh Places Bar của Windows khác với Places Bar trong các ứng dụng Office, nên các thay đổi ở bên này sẽ không ảnh hưởng đến bên kia.

Một giải pháp khác cũng khá hay là bạn đặt tất cả shortcut đến các thư mục và tài liệu thường sử dụng vào một thư mục riêng lẻ, sau đó bổ sung một shortcut đến chính thư mục này trên thanh Places Bar. Bạn sẽ phải thực hiện thêm tối thiểu một thao tác nhấn chuột nữa, nhưng dù sao vẫn nhanh hơn giải pháp “đào bới” nhiều lớp thư mục.

 

 

Hình 1: Tùy biến link trong hộp thoại Vista bằng thao tác kéo-thả đơn giản.

Trong Vista, Places Bar được gọi là Favorite Links và được đặt trong đồng thời tiện ích Explorer cũng như hầu hết hộp thoại tập tin (các ứng dụng không được thiết kế cho Vista sẽ không có tính năng này). Để tùy biến danh sách này, chọn thư mục cần thiết trong mục Folder (bên dưới mục Favorite Links) ở bên trái, hoặc chọn một thư mục hay tập tin trong cửa sổ tập tin chính của hộp thoại; sau đó, kéo (drag) những khoản mục này vào Favorite Links cho đến khi xuất hiện một dòng kẻ giữa 2 khoản mục đang có mặt (Hình 1). Thả nút trái chuột để tạo shortcut mới này (hay còn gọi là một liên kết mới). Để có một cái nhìn bao quát hơn, bạn nhấn chuột lên mũi tên chỉ xuống ở cạnh mục Folders để gập khung này lại. Bạn kéo – thả để sắp xếp lại các khoản mục. Muốn loại bỏ hoặc đặt lại tên cho một liên kết (link), bạn nhấn phải chuột lên nó rồi chọn Remove Link hoặc Rename Link hoặc Rename. Có một số liên kết (như Desktop và Computer) không thể loại bỏ, nhưng bạn có thể tùy biến các liên kết trong danh sách tập tin bằng cách nhấn phải chuột lên mục Links trong cây thư mục Folders xuất hiện bên mục Favorite Links.

My Recent Documents: Hầu hết các hộp thoại tập tin đều có một shortcut mang tên History (Windows 2000), My Recent Documents (Windows XP) hoặc Recent Places (Vista) trên thanh Places Bar. Bạn có thể nhấn chuột vào đó để xem danh sách các tập tin và thư mục được sử dụng/truy xuất trong thời gian gần đây. Trong Windows 2000 và XP, bạn có thể lọc chủng loại tập tin cần hiển thị thông qua trình đơn thả xuống Files of type ở cuối hộp thoại. Trong Vista, bạn có thể loại bỏ các thông tin hiện tại trong Recent Places bằng cách nhấn phải chuột lên biểu tượng đó và chọn Clear Recent Items List.

Trình đơn thả xuống “File name”: Một danh sách ngắn hơn của các tập tin được truy xuất gần đây sẽ nằm trong trình đơn rơi xuống File name ở gần cuối hộp thoại. Nhấn chuột lên mũi tên ở bên phải để xem đường dẫn của các tập tin. Để lọc danh sách này theo loại tập tin, bạn chọn loại tập tin cần thiết trong danh sách thả xuống Files of type (với Windows 2000 và XP) hoặc từ trình đơn pop-up ở bên phải của hộp thoại File name (với Windows Vista).

Để mở một thư mục được truy xuất gần đây thay vì mở một tập tin, trong Windows 2000 và XP, hãy sử dụng trình đơn thả xuống Files name để chọn một tập tin trong thư mục mà bạn cần, ấn phím mũi tên trái một lần để loại bỏ văn bản trong hộp File name, rồi ấn phím khoảng trắng (Backspace) nhiều lần đủ để xóa tên tập tin và chỉ để lại đường dẫn. Cuối cùng, bạn ấn phím <Enter>. Sau đó, tập tin liệt kê ở trên sẽ chuyển thành thư mục mong muốn. Trong Vista, danh sách thả xuống ở phía trên cùng của cửa sổ Explorer và hầu hết hộp thoại tập tin sẽ hiển thị đường dẫn hoàn chỉnh hướng đến các thư mục và địa chỉ website được truy xuất gần đây.

 

MỞ TIỆN ÍCH VÀ TẬP TIN YÊU THÍCH VỚI CÔNG CỤ LAUNCHY

 
 

Vista cho phép bạn có thể ấn phím <Windows> (ÿ), nhập vào vài ký tự cho đến khi xuất hiện tên ứng dụng phù hợp với lựa chọn của mình, sau đó ấn <Enter> để khởi động nhanh ứng dụng đó. Nếu chưa sẵn sàng chuyển sang Vista (hoặc nếu đang sử dụng chế độ trình đơn Classic Start của Vista), bạn hãy thử sử dụng Launchy, một công cụ nguồn mở của Josh Karlin (tải về từ địa chỉ find.pcworld.com/56804. Ấn tổ hợp phím <Alt> – <Space> (hoặc bất kỳ tổ hợp phím nóng nào do bạn chọn) để mở cửa sổ dòng lệnh; nhập vào vài ký tự và Launchy sẽ dự báo tên ứng dụng/tập tin mà bạn cần tìm (và các thay thế khác). Khi tên ứng dụng/tập tin mà bạn yêu cầu đã xuất hiện trong cửa sổ, ấn <Enter>. Launchy cho phép bạn tùy biến các thư mục mà ứng dụng này tìm kiếm và loại tập tin hiển thị. Ví thế, bạn có thể sử dụng Launchy để mở các tập tin hình ảnh, nhạc cũng như khởi chạy các ứng dụng.

 

Bùi Xuân Toại
PC World Mỹ 6/2007

———————————————————

Launchy 1.03


 

Tăng tốc Windows bằng cách điều chỉnh bộ nhớ ảo


Thủ thuật tối ưu bộ nhớ ảo (phần đĩa cứng trống mà Windows sử dụng để bổ sung cho bộ nhớ hệ thống) giúp hệ thống hoạt động nhanh hơn và hiệu quả hơn luôn là chủ đề được bàn tán sôi nổi nhất trong số các thủ thuật Windows. Hiện có nhiều cách để tinh chỉnh bộ nhớ ảo được lưu truyền trên Internet, tuy nhiên bài viết này chỉ trình bày một thủ thuật được Windows chứng nhận.

 

 

Hình 1: Disk Management của Windows giúp xác định có bao nhiêu đĩa cứng và phân vùng đĩa cứng.

Nếu máy tính của bạn được trang bị duy nhất một đĩa cứng, bạn chỉ cần chọn dung lượng đĩa cứng dùng cho bộ nhớ ảo, công việc khá đơn giản. Tuy nhiên, nếu có từ 2 đĩa cứng ngắn trong hay gắn ngoài trở lên (đĩa cứng vật lý chứ không phải là phân vùng đĩa cứng), máy tính của bạn sẽ trở nên “sung sức” hơn nếu bạn giữ tập tin bộ nhớ ảo (paging file – Windows gọi đây là không gian của bộ nhớ ảo) mặc định trên đĩa cứng khởi động (ổ đĩa lưu Windows) và bổ sung một tập tin bộ nhớ ảo vào đĩa cứng thứ hai.

Để thực hiện, bạn đăng nhập vào Windows với quyền quản trị (administrator) và kiểm tra xem máy tính có nhiều hơn một đĩa cứng hay không: nhấn Start.Run (hay chỉ là nhấn Start trong Windows Vista), gõ vào lệnh diskmgmt.msc rồi nhấn <Enter> để khởi động tiện ích quản lý đĩa cứng Disk Management (nếu cần thiết, nhấn Continue trong mục User Account Control). Khung cửa sổ phía dưới của Disk Management sẽ hiển thị từng đĩa cứng có trong máy của bạn và tên (thứ tự) ổ đĩa tương ứng với mỗi phân vùng (Hình 1). Nếu chỉ tạo một tập tin bộ nhớ ảo, bạn nên đặt tập tin này trong đĩa cứng có tốc độ nhanh nhất cũng như ưu tiên sử dụng đĩa cứng gắn trong (loại đĩa cứng gắn ngoài thường có tốc độ chậm hơn). Ghi lại tên ổ đĩa cứng mà bạn sử dụng.

 

Hình 2: Thiết lập dung lượng bộ nhớ ảo bằng cách sử dụng tùy chọn System managed.

 

Tiếp đến, nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer trên màn hình Windows 2000/XP hay Computer trên màn hình Vista, chọn Properties. Với hệ thống chạy Windows 2000/XP, chọn thẻ Advanced; trong Vista là Advanced system settings.

Ở mục Performance, nhấn Settings (trong Windows 2000 là Performance Options), chọn thẻ Advanced (trong XP và Vista). Ở mục Virtual Memory, bạn nhấn Change. Với hệ thống chạy Windows Vista, bỏ chọn mục Automatically manage paging file size for all drives. Bạn sẽ thấy kích thước tập tin bộ nhớ ảo được liệt kê trên đĩa cứng chứa Windows và những đĩa cứng khác (nếu có); bạn đừng thay đổi gì đến các tập tin bộ nhớ ảo được tạo từ truớc.

Tiếp đến, trong danh sách đĩa cứng, chọn một phân vùng ổ đĩa khác để lưu tập tin bộ nhớ ảo. Chọn Custom size nếu bạn muốn tự thiết lập dung lượng cho bộ nhớ ảo, sau đó nhập vào giá trị tối thiểu và tối đa. Microsoft khuyến cáo 2 giá trị này nên bằng nhau và bằng 1,5 lần dung lượng bộ nhớ hệ thống. Nếu muốn Windows tự xác định giá trị cho bộ nhớ ảo, bạn chọn System managed size. (chỉ có ở Windows XP và Vista mới, Hình 2). Nhấn Set và rồi OK.

Nếu phần vùng đĩa cứng vừa chọn đã cài một phiên bản Windows khác thì bạn sẽ nhận được một thông báo cho biết tập tin pagefile.sys đã tồn tại. Bởi vì 2 phiên bản Windows không thể chạy cùng lúc do đó bạn hoàn toàn có thể chọn ghi đè lên tập tin bộ nhớ ảo cũ. Mỗi lần khởi động máy, Windows sẽ tự động tạo ra tập tin pagefile.sys mới cho phiên bản đang chạy. Cuối cùng, bạn nên khởi động lại Windows để các khai báo và thiết lập vừa thực hiện trở nên có hiệu lực.

Thu Lê
PC World Mỹ 8/2007


 

“Tăng lực” cho máy tính


Thực tế cho thấy, bạn không nhất thiết phải chi nhiều tiền để trang bị cho chiếc máy tính để bàn của mình những tính năng cao cấp vốn chỉ có ở máy tính dành riêng cho nhu cầu chơi game và xử lý đồ họa. Vài biện pháp nâng cấp đơn giản và kinh tế vẫn có thể giúp đẩy hiệu năng hệ thống của bạn lên một tầm cao mới.

Với trình độ sơ đẳng, bạn có thể áp dụng phương pháp ép xung trực tiếp trên bo mạch chủ của máy tính. Việc ép xung có khả năng cải thiện hiệu năng hệ thống bằng cách yêu cầu bộ vi xử lý (CPU) và chip đồ họa chạy nhanh hơn thiết lập mặc định. Hầu hết CPU đều có thể hoạt động thoải mái ở các tần số cao hơn tần số được các hãng sản xuất máy tính sử dụng.

Nếu là người cẩn trọng, bạn có thể ép xung máy tính mà không gặp phải rủi ro nào. Một khi đã được ép xung, CPU sẽ chạy nhanh hơn và dĩ nhiên cũng nóng hơn, tuy nhiên việc theo dõi và kiểm soát nhiệt độ hệ thống có thể thực hiện khá dễ dàng. Xin lưu ý, việc ép xung sẽ làm hỏng các quy định về bảo hành. Trong vài trường hợp, bạn có thể không nhận thấy bất kỳ sự cải thiện đáng kể nào về hiệu năng và tốt nhất là bạn nên đưa hệ thống về lại tình trạng cũ.

Nếu mua riêng một bo mạch chủ hoặc mua một máy tính sử dụng bo mạch chủ đã “lỗi thời”, bạn cần sử dụng một tiện ích chạy trên Windows của hãng thứ 3 để thực hiện ép xung thay vì phải mất công tìm kiếm, tinh chỉnh các thông số trong chương trình PC Setup của máy tính. Đa số các bo mạch chủ đời mới đều cung cấp công cụ ép xung trong đĩa CD đi kèm. Nếu không có cách nào khác, bạn buộc lòng phải mở tiện ích PC Setup bằng cách nhấn một phím được thông báo ngay trước khi Windows được khởi động (thường là phím DEL hay F2). Trong phần cài đặt BIOS, bạn tìm mục thiết lập thông số cho xung nhịp hệ thống và FSB – thường thì chúng nằm trong mục Advanced Chipset Features (hình 1). Cần lưu ý, tên gọi và cách thiết lập các giá trị này có thể khác nhau tùy loại BIOS hoặc máy tính.

Cách duy nhất để tìm ra tốc độ tối đa của CPU là mạo hiểm thiết lập thử. Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo kinh nghiệm của những người dùng khác từ những diễn đàn mạng chuyên về ép xung như Extreme Overclocking (find.pcworld.com/57353), EarthWeb Hardware (find.pcworld.com/57354) hay Xtremevn.com.

THỰC CHẤT CÔNG VIÊC

Bạn có 2 cách để ép xung CPU, một là tăng hệ số nhân CPU, hai là tăng xung của nhịp bus hệ thống (FSB) – FSB có chức năng kiểm soát bộ nhớ RAM và bo mạch chủ. Trong đó, thay đổi hệ số nhân CPU là phương pháp dễ thực hiện hơn. Ví dụ, nếu FSB của máy tính đang sử dụng được thiết lập ở mức 200MHz và hệ số nhân là 14 thì CPU sẽ chạy ở tốc độ 2,8GHz (hình 2), khi tăng hệ số nhân lên 16 thì tốc độ CPU sẽ đạt 3,2GHz. Tuy nhiên, trừ các CPU cao cấp như dòng Athlon FX của AMD hoặc dòng Extreme Edition của Intel, tất cả CPU đời mới đều bị “khóa” hệ số nhân và đó cũng chính là lý do tại sao hầu hết người yêu thích ép xung hiện nay phải chuyển sang hình thức tăng giá trị xung nhịp FSB – một thủ tục phức tạp hơn rất nhiều so với việc tăng hệ số nhân CPU.

 

 

Hình 1: Tìm kiếm và thiết lập thông số ép xung hệ thống trong tiện ích PC Setup.

Việc tăng giá trị xung nhịp FSB không những giúp cải thiện hiệu năng CPU mà còn tăng tốc độ truyền nhận dữ liệu giữa bộ nhớ và CPU. Tuy nhiên, thao tác tinh chỉnh này có thể dẫn đến tình trạng “treo” máy, vì thế bạn cũng phải điều chỉnh các thông số liên quan đến RAM và mức điện áp trong BIOS. Bạn cần hết sức thận trọng với các thông số này bởi một sai lầm nhỏ cũng có thể gây ra tai họa khôn lường, do đó tốt hơn hết là bạn nên tham khảo kinh nghiệm thực hiện từ các diễn đàn hay ai đó có kinh nghiệm.

Để biết hệ thống của mình có thể chạy nhanh hơn đến mức nào, bạn tăng giá trị xung nhịp trong BIOS lên từng bậc, sau đó để máy tính chạy thử một lát và kiểm tra xem có gặp trục trặc nào hay không. Nếu an toàn, bạn tiếp tục tăng giá trị này lên cho đến khi hệ thống xảy ra hiện tượng bất thường. Từ giá trị “chết” này, bạn giảm xung nhịp xuống một bậc hay thậm chí đến một mức thấp an toàn hơn theo quan điểm của riêng bạn.

Làm mát hệ thống

 

Hình 2: Ép xung chỉ đơn giản là thay đổi giá trị hệ số nhân CPU trong BIOS.

 

Những máy tính hiệu năng cao thường đòi hỏi một hệ thống làm mát làm việc thật tốt. Quạt làm mát CPU có sẵn trong máy tính thường không đủ “công lực” để đáp ứng cho nhu cầu ép xung. Hệ thống làm mát CPU dùng quạt có giá dưới 30USD, tuy nhiên bạn nên mua sản phẩm của những hãng tên tuổi như Thermaltake hoặc Zalman – dù đắt nhưng chúng ổn định và quan trọng nhất là ít tạo ra tiếng ồn hơn.

Trong khi đó, game thủ và người dùng sử dụng máy tính thường xuyên lại thích trang bị hệ thống giải nhiệt bằng chất lỏng vì chúng hiệu quả hơn. Loại thiết bị này bao gồm một chiếc bơm đơn giản, các ống dẫn, bộ tản nhiệt và một “khối nóng” dùng để hút nhiệt từ CPU.

Nếu lo ngại việc chất lỏng chỉ cách các mạch điện trong máy tính khoảng vài milimét, bạn có thể sử dụng quạt làm mát Monsoon II Like của Vigor Gaming (130USD, find.pcworld.com/57357). Dù không phải loại tản nhiệt dùng chất lỏng nhưng Monsoon II rất hiệu quả nhờ kết hợp một quạt thông thường với một bộ phận làm mát Peltiler mạnh mẽ. Thiết bị này dễ lắp ráp và chiếm ít diện tích bên trong thùng máy hơn so với nhiều loại quạt mát CPU công suất lớn khác.

ÉP XUNG CARD ĐỒ HỌA

Mỗi card đồ họa có bộ xử lý và RAM riêng, do đó bạn có thể tăng tốc cho từng phần bằng cách sử dụng phần mềm. Tiện ích RivaTuner 2 của 3Dguru (find.pcworld.com/55274) từ lâu đã được những người dùng chuyên ép xung sử dụng để tinh chỉnh hiệu quả đồ họa. Tuy nhiên việc ép xung hiện quá thông dụng cho nên các hãng sản xuất card đồ họa hàng đầu như ATI và nVidia đã cung cấp sẵn các công cụ ép xung trên nhiều loại card đồ họa. Thực ra, trong một số trường hợp, việc sử dụng tiện ích Overdrive của ATI để ép xung không làm mất hiệu lực bảo hành của card đồ họa. Ngoài ra, bạn còn có thể sử dụng tiện ích Coolbits của nVidia hay tham khảo những giải pháp khác được hướng dẫn trong bài viết “Bí quyết tinh chỉnh hệ thống” (ID: A0503_78).

Những lời khuyên dành cho việc ép xung hệ thống cũng có thể áp dụng cho card đồ họa: tham khảo kỹ lưỡng trên các website và diễn đàn chuyên về ép xung để hiểu rõ quy trình áp dụng cho card đồ họa của bạn; luôn ghi nhớ phải tăng xung nhịp lên từng mức nhỏ, kiểm tra thử xem máy có chạy ổn định hay không trước khi tiếp tục tăng giá trị xung nhịp, đồng thời theo dõi kỹ thời điểm máy rơi vào tình trạng quá nhiệt (overheat).

Bạn có thể theo dõi nhiệt độ của card đồ họa bằng thiết bị Digital Thermal Probe của HighSpeed PC (15USD, find.pcworld.com/56489). Nếu nhiệt độ lên quá cao, bạn nên trang bị một thiết bị làm mát card đồ họa như VCool của Antec (20USD, find.pcworld.com/57359, hình 3).

 

 

Hình 3: Giữ cho card đồ họa luôn mát nhờ quạt thiết kế đặc biệt, ví dụ Antec VCool (20USD).

Tuy nhiên, biện pháp hiệu quả nhất để cải thiện hiệu năng xử lý đồ họa cho máy tính vẫn là trang bị một card đồ họa cao cấp. Máy tính giá rẻ với bộ xử lý đồ họa được tích hợp ngay trên bo mạch chủ thường chạy “chậm như rùa” khi chơi các game hành động, biên tập video hoặc xử lý các tập tin đồ họa lớn. Bởi vì những máy tính trên sử dụng RAM hệ thống đồng thời cho tác vụ xử lý đồ họa lẫn các tác vụ chung của hệ thống, cho nên việc lắp thêm một card đồ họa chuẩn AGP hoặc PCI Exoress – nếu máy tính còn khe cắm trống – sẽ cải thiện được đáng kể khả năng xử lý đồ họa. Để biết máy tính của mình đang sử dụng loại card đồ họa nào, bạn có thể quan sát ở mặt sau máy: nếu cổng tín hiệu VGA hoặc DVI không nằm chung trên một khe cắm card mở rộng thì chắc chắn máy tính của bạn sử dụng card đồ họa tích hợp.

Trước khi mua card đồ họa mới, bạn phải bảo đảm có thể vô hiệu hóa được hệ thống đồ họa trên bo mạch chủ. Trên một số máy tính, điều này sẽ tự động được thực hiện khi bạn lắp card đồ họa rời vào khe cắm, tuy nhiên ở những máy tính khác thì bạn cần phải thay đổi vài thông số trong chương trình PC Setup. Nếu không thể vô hiệu hóa tính năng đồ họa trên bo mạch chủ máy, bạn nên cân nhắc mua một máy tính mới hoặc chí ít cũng là một bo mạch chủ mới.

Thế hệ card đồ họa xuất hiện từ hai năm trước có thể gặp trở ngại đối với vài tựa game mới nhất, đặc biệt là những game đòi hỏi độ phân giải màn hình cao hoặc thậm chí chỉ ở mức vừa phải. Bạn không nhất thiết phải trang bị một card cao cấp như nVidia GeForce 8800 GTX (600USD) mà chỉ cần một card đồ họa có giá phù hợp với ngân sách của mình. Để biết thêm thông tin và hướng dẫn, tham khảo find.pcworld.com/57366 và find.pcworld.com/57367.

Vài lưu ý: Một số card đồ họa chuẩn AGP hiện vẫn còn được bày bán và sử dụng rộng rãi, tuy nhiên công nghệ này đang đi vào giai đoạn “thoái trào”. Thậm chí nếu tìm được một card đồ họa AGP ưng ý thì nhiều khả năng bạn không thể tận dụng nó cho chiếc máy tính tương lai của mình (thường thiếu khe cắm AGP), do đó bạn nên cân nhắc mua một bo mạch chủ mới hỗ trợ khe cắm PCI Express. Nếu có ý định sử dụng Windows Vista, bạn phải chắc chắn rằng card đồ họa đó đi kèm trình điều khiển thiết bị cho Vista và hỗ trợ DirectX 10.

Nhiều máy tính chơi game giá khoảng 5.000USD được trang bị hai card đồ họa SLI hoặc CrossFire – thường là loại card đôi (600USD) – hoạt động theo nguyên tắc “xe kéo” để cải thiện khả năng xử lý đồ họa. Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có khả năng áp dụng giải pháp này cho máy tính của mình nếu bo mạch chủ đang sử dụng hỗ trợ SLI hoặc CrossFire. Nếu ngân sách eo hẹp, bạn có thể mua trước một card, sau đó sẽ mua tiếp khi có thể.

TRANG BỊ BO MẠCH CHỦ MỚI

Nếu bo mạch chủ đang sử dụng không hỗ trợ các công nghệ hiện đại như PCI Express (card đồ hoạ), SATA và RAID (đĩa cứng) và bộ xử lý lõi kép thì đây đúng là dịp để bạn mua một máy tính mới. Nếu chưa sẵn sàng cho việc này, bạn có thể cân nhắc chỉ thay mới bo mạch chủ, CPU và RAM. Loại bo mạch chủ sử dụng chipset 650i của nVidia hỗ trợ các card đồ họa, đĩa cứng mới nhất và những thành phần khác. Ví dụ, bo mạch chủ Asus P5N-E SLI (giá dưới 150USD) hỗ trợ PCI Express, cung cấp 2 khe cắm card đồ họa SLI, đầu nối đĩa cứng SATA và hỗ trợ kết nối RAID ngay trên bo mạch chủ. Nếu không cần sử dụng SLI, bạn có thể chọn loại bo mạch chủ như EVGA nForce 650i Ultra ở mức giá 120USD. Cả hai bo mạch chủ này hỗ trợ thế hệ bộ xử lý 2 lõi và 4 lõi của Intel, cũng như Pentium 4 và Celeron (socket 775).

 

TIỆN ÍCH KHÔNG THỂ THIẾU

 
 

Bạn có thể theo dõi sát sao quá trình ép xung hệ thống với các tiện ích miễn phí sau đây.
CPU-Z (find.pcworld.com/57369) giúp bạn kiểm tra tốc độ xung nhịp CPU, cung cấp tất cả cài đặt và thông số quan trọng cho CPU, bo mạch chủ và RAM của hệ thống.
SpeedFan (find.pcworld.com/57370) của Alfredo Milani Comparetti là một chương trình được nhiều người ưa thích, dùng để theo dõi nhiệt độ của CPU và nhiệt độ bên trong thùng máy, đồng thời bạn có thể cài đặt tốc độ quạt sao cho máy được làm mát tốt nhất. Trong khi đó, tiện ích Desktop Utilities (find.pcworld.com/57371) dành cho các máy tính nền Intel sẽ hiển thị đồng thời nhiệt độ bên trong thùng máy và mức điện áp trên một giao diện hết sức thân thiện.
Bạn do dự vì không biết có thể tác động lên bộ xử lý của mình đến mức nào? Hãy sử dụng tính năng độ ổn định của máy tính ở mọi xung nhịp bằng công cụ CPU Stability Test của Jouni Vuorio (find.pcworld.com/57372). Ngoài ra, bạn còn có thể sử dụng tiện ích Prime 95 (find.pcworld.com/57373) của GIMPS Projec (Great Internet Mersenne Primes Search) để kiểm tra máy tính.
Không những thế, bạn còn có thể tham khảo website của hãng sản xuất bo mạch chủ mà mình đang sử dụng để biết các tiện ích tinh chỉnh phù hợp. SysTool (find.pcworld.com/57376) của Tech Power Up sẽ cung cấp các công cụ dùng để ép xung cả CPU lẫn card đồ họa.

 

Bùi Xuân Toại
PC World Mỹ 8/2007

——————————————————————-

CPU Stability Test 6.0 build 154

CPU-Z 1.40.5

Intel® Desktop Utilities

Mersenne Prime

SpeedFan 4.32

SysTool v0.1 build 731


 

BERYL – Lớp vỏ hào nhoáng của Linux


Hiện nay trong cộng đồng Linux, hai cái tên Compiz và Beryl không xa lạ – đây là 2 lớp vỏ ngoài bóng bẩy của hệ điều hành mã nguồn mở này. Vẻ đẹp cuả chúng có thể tạo cân bằng cho cuộc đua giao diện giữa Linux và Windows Vista – Aero.

Khi mới xuất hiện, Compiz như một quả bom tấn cho cộng đồng Linux lúc bấy giờ. Nó như một lớp vỏ ngoài bóng bẩy thay thế cho giao diện đơn điệu vốn có của Linux. Với sự ổn định và các hiệu ứng đẹp, Compiz nhanh chóng trở thành một phần mềm không thể thiếu trong các phiên bản Linux.

Beryl được biết đến như một bản biến thể cuả Compiz. Với các hiệu ứng đặc sắc vượt trội hơn Compiz, cộng với bộ giao diện Emerald tuyệt vời đã khiến lớp vỏ ngoài của Linux đẹp hơn bao giờ hết. Tuy vượt trội hơn Compiz về nhiều mặt, nhưng Beryl lại không có được sự ổn định như Compiz. Do đó, Beryl được các nhà phát hành xếp vào phần mềm tùy chọn cho các phiên bản Linux của họ. Dù vậy, Beryl vẫn chiếm được cảm tình của nhiều người dùng và được sử dụng rộng rãi. Do các hiệu ứng của Compiz vẫn có trong Beryl nên bài viết này sẽ tập trung vào Beryl nhiều hơn.

BERYL – BỘ HIỆU ỨNG SẶC SỠ

Application Window Switcher

Nếu bạn cảm thấy thích thú khi chuyển đổi qua lại các cửa sổ (Alt + Tab) trong Window Vista với Aero thì chắc chắn Beryl sẽ làm bạn hài lòng. Beryl có 3 dạng switcher.

Dạng 1: Wall Switcher

Để sử dụng hiệu ứng này, chúng ta cần ấn tổ hợp phím Alt + Tab. (hình 1)

Dạng 2: Ring Switcher

Hiệu ứng này cũng gần giống như khi dùng Alt + Tab trong Windows Vista với Aero, nhưng trong Linux, bạn sẽ thấy các cửa sổ xoay theo vòng tròn.

Để sử dụng hiệu ứng này, ấn tổ hợp phím Super Key + Tab. (hình 2)

Dạng 3: Window Picker

Đây là một hiệu ứng rất đặc sắc và hữu dụng của Compiz và Beryl. Khi rê chuột về góc trên bên phải màn hình thì tất cả các cửa sổ đang mở trong tất cả các workspace sẽ được thu nhỏ và xếp ngay ngắn cho người dùng chọn lựa.

Desktop Switcher

Đối với người dùng Linux, khái niệm nhiều workspace không có gì xa lạ. Nó giúp cho người dùng thuận tiện trong khi làm việc với nhiều ứng dụng. Beryl đã thổi vào Linux nhiều phương thức chuyển đổi workspace mới lạ làm cho người dùng thích thú, ví dụ Desktop Cube: người dùng sẽ chuyển đổi qua lại các workspace dưới hình dạng một khối hình hộp 3D. Để sử dụng hiệu ứng này, chúng ta làm như sau: ấn và giữ tổ hợp phím Ctrl + Alt, sau đó ấn chuột trái và rê để xoay khối hộp.

Desktop Wall

Đây là hiệu ứng mặc định trong Compiz, nhưng nếu muốn dùng trong Beryl, chúng ta cần phải vào Beryl Setting Manager -> General Options -> Shortcuts -> Desktop Cube -> Biding, trong đó chọn phần Unfold Cube và gán tổ hợp phím cho nó.

Xem trước các ứng dụng đang thu nhỏ

Đây là một tiện ích hữu ích. Nó giúp người dùng có thể xem nội dung các cửa sổ đang trong chế độ minimize mà không cần phải bật các cửa sổ đó lên. Đây là một trong các hiệu ứng rất hữu ích cho người dùng, giúp tiết kiệm thời gian khi làm việc với nhiều cửa sổ.

Để dùng hiệu ứng này, chỉ việc rê chuột vào các cửa sổ đang trong chế độ Minimize và đợi khoảng 1 giây.

Hiệu ứng trong suốt

Chắc hẳn bạn sẽ rất thích thú khi xem hiệu ứng trong suốt trong Aero. Bạn cũng ngạc nhiên không kém khi thấy Beryl đảm nhiệm xuất sắc hiệu ứng này. Chỉ cần để chuột vào cửa sổ muốn áp dụng hiệu ứng, sau đó ấn và giữ Alt rồi dùng nút cuộn chuột (scroll) để tăng, giảm độ trong suốt của cửa sổ đó.

Cửa Sổ 3D

Đây là một trong các hiệu ứng đặc sắc của Beryl khiến nhiều người thích thú. Bạn chỉ có thể thấy được hiệu ứng này khi dùng hiệu ứng 3D Cube, lập tức các cửa sổ đang mở sẽ nổi lên thành 1 cửa sổ 3D.

Nhóm các cửa sổ làm việc

Đây là một tiện ích hữu ích khác của Beryl, giúp người dùng dễ kiểm soát các cửa sổ làm việc của mình. Chỉ việc nhóm các cửa sổ lại với nhau, người dùng có thể kéo, thả một nhóm các cửa sổ cùng một lúc một cách dễ dàng.

Để nhóm các cửa sổ, làm như sau:

1/ Chọn từng cửa sổ xong, ấn tổ hợp phím Super Key + S để đánh dấu các cửa sổ cần nhóm; hoặc ấn và giữ Super Key rồi dùng chuột quét tất cả các cửa sổ muốn nhóm lại.

2/ Ấn tổ hợp phím Super Key + G để nhóm lại. Muốn rã nhóm thì ấn Super Key + U.

EMERALD – BỘ QUẢN LÝ GIAO DIỆN TUYỆT VỜI

Đi song hành với Beryl là bộ quản lý giao diện tuyệt vời Emerald. Emerald cho phép người dùng tùy biến giao diện của cửa sổ làm việc, đồng thời cung cấp nhiều mẫu giao diện rất đẹp cho người dùng lựa chọn.

Compiz Fusion: Sự thay thế hoàn hảo

Hiện nay, Compiz và Beryl đã không còn được phát triển tiếp nữa vì 2 nhóm phát triển của Compiz và Beryl đã bắt tay nhau cùng phát triển một phiên bản hợp nhất nhằm có được sự ổn định của Compiz và vẻ hào nhoáng cuả Beryl: Compiz Fusion. Tuy đang trong giai đoạn phát triển nhưng Compiz Fusion hứa hẹn sẽ là một phần mềm sáng giá góp phần tạo nên sự lộng lẫy cho Linux.

PHỤ LỤC:

Compiz/Beryl và Aero

Tuy có các hiệu ứng sặc sỡ không thua gì Aero của Windows Vista nhưng Compiz/Beryl lại đòi hỏi cấu hình nhẹ hơn hẳn: Theo trang chủ của Beryl (http://wiki.beryl-project.org/wiki/Beryl_FAQ) thì Beryl có thể chạy tốt trên máy có GeForce 3/i855/Radeon 7500, RAM 256MB và tốc độ 1.2GHz. Riêng với tác giả, mặc dù máy dùng mainboard chipset 915GM, card đồ hoạ tích hợp 128Mb (không đủ để chạy Aero) nhưng lại có thể chạy tất cả các hiệu ứng của Beryl khá tốt.

Super Key

Đọc bài viết, nhiều bạn sẽ thắc mắc phím Super Key là phím gì? Thật ra, phím Super Key chính là phím Windows trên PC, phím Apple trên Macintosh và là phím Amiga trên Amiga.

Nếu bạn ấn nút Super Key mà không có tác dụng? Trước hết bạn vào phần Keyboard, sau đó chọn tab Layout Options, xuống phần Alt/Win Key Behaviour, chọn dòng Super is mapped to the Win-keys.

source : pcworld.com.vn

Beryl homepage & support : http://www.beryl-project.org/
Beryl download page : http://www.beryl-project.org/releases.php
Beryl themes page : http://themes.beryl-project.org/
Beryl 4rum : http://forum.beryl-project.org/


 

CHM2Word 3.0 Build 0915


CHM2Word 3.0 Build 0915

Do you bother with your CHM file that can’t print topics in CHM file with easy step like print a Microsoft Word Document? Our CHM2Word is easy solution. With our CHM2Word, you can easy convert topics in CHM file to Microsoft Word Document to print or edit. So you never worry about print topics in CHM file again.

CHM2Word Key Features

  • Convert the specified topics in CHM file to Microsoft Word Document.
  • Save your time to print a CHM file.
  • Drag and Drop supported to convert a CHM file to Microsoft Word Document.
  • Build-in Word Editor to edit and print the Microsoft Word Document directly.
  • Build-in simple HTML Editor to edit the HTML file directly.
  • CHM Decompile function supported.
  • Microsoft Office XP Style and Microsoft Office 2003 Style theme supported.

System Requirements

Before installing CHM2Word, please be sure you have:

  • Windows NT/2000/XP/2003
  • Microsoft Word 2000, Microsoft Word 2002 (XP), or Microsoft Word 2003
  • Internet Explorer v4.1 or later
  • 64 MB RAM or more
  • 5 MB free disk space
  • At least 800*600 screen solutio


(Register to log in, it’s free !)


 
 Prev 1 2 3 ...115 116 117 ...121 122 123 Next

Recent Posts

Loading

Most Viewed

Loading

Recent Comments

Loading